MỘT CẢM NHẬN TỪ TẬP TRUYỆN "CAO NGUYÊN MÊNH MÔNG" Qua "tập truyện ngắn chọn lọc" này người đọc bắt gặp một con người với những "ẩn ức" muốn chia sẻ luôn chất chứa trong một tâm hồn nhiều suy ngẫm, chiêm nghiệm. Những chất chứa, chiêm nghiệm cuộc đời đó của Lê Công được thể hiện ra bằng giọng văn tự sự không ồn ào, khoe chữ mà giản dị đến chất phác. Nhưng điều quan trọng là anh đã truyền tải, chia sẻ với người đọc nỗi niềm u uẩn, cả nỗi buồn, niềm vui, sự mất mát, đặc biệt là lòng đam mê chân thành. 21 truyện ngắn chọn lọc, mỗi truyện mang một vẻ, đề cập đến một lĩnh vực riêng mà Lê Công đã miệt mài quan sát, sưu tầm, chắt lọc và chiêm nghiệm trong những chuyến đi thực tế cũng như trong đường đi của cuộc đời. Từ những hiện tượng, những mối quan hệ đời thường, từ thực tế làm công tác khoa học cũng như những dấu ấn, những suy ngẫm trong cuộc đời, trong xã hội, Lê Công đã trăn trở viết. Kiểu nghệ thuật "hồi tưởng" mà Lê Công hay sử dụng trong hầu hết các truyện của tập truyện càng chứng minh cho những trăn trở đó của anh. Nước mắt muộn là câu chuyện kết thúc đầy cảm động của Quân, một sinh viên đẹp trai, sống tình cảm, bị bạn học là Tòng vu oan, đánh đập, hãm hại cả suốt cuộc đời, phải chịu đựng biết bao oan khuất để trở thành lập dị, sống trốn đời. Khi được giải oan thì đã muộn. Quả thực câu chuyện có ý nghĩa hơn với tựa đề Nước mắt muộn. Sau câu chuyện Nước mắt muộn kết thúc không có hậu là Cậu Trạc, người đọc gặp ở đây một định nghĩa về tình yêu đích thực và cao cả qua hành động quả quyết của Trạc nói với chị: "Trong chiến tranh, em đã đi hết mọi chiến trường mà không sao. Bây giờ hòa bình rồi, em lại được hoàn toàn tự do, em sẽ đi, đi cùng trời cuối đất cho đến khi gặp được cô ấy" (Cậu Trạc, tr.42-43). Cùng chung mạch tư tưởng đó là truyện ngắn Cô em họ và Đất không cưu mang. Đó là tình yêu đích thực, là niềm khát vọng sống rất nhỏ bé nhưng thiết thực của một cô Lẽn- một cô gái quê đã dũng cảm bước qua những định kiến, lễ giáo để tìm đến hạnh phúc cho mình. Khiến cho "những nụ cười mỉa mai, khinh rẻ trên môi các thành viên nhà ông Phàn tắt ngấm" (Cô em họ, tr. 82). Đó là một truyện tình éo le, sóng gió giữa nhân vật Đực học trò và cô giáo Hường bị xã hội lên án, dè bỉu, tưởng như dở dang song vẫn có chốn cưu mang bởi lòng độ lượng của con người. Chính tình yêu đích thực đã khiến con người ta thay đổi, hướng thiện, sống một cuộc sống tốt hơn và đưa họ đến với nhau. Câu truyện kết thúc thật có hậu: "Hai người ôm chặt lấy nhau. Họ như trẻ lại tuổi hai mươi. Mặc tiếng rít của một đợt gió mùa vừa tràn tới. Mặc tiếng gầm thét của sóng biển từ cửa Sót vọng vào. Hai người cảm thấy đang tan vào nhau". (Đất không cưu mang, tr. 109). Chiến tranh đã gây bao hy sinh mất mát, dư âm của nó còn để lại dai dẳng cho cuộc sống con người. Nó gây ra bao nỗi đau thương. Nỗi đau của người đàn bà viết về chủ đề đó, nói về nhân vật Lan không chỉ phải chịu đựng hy sinh tuổi thanh xuân trong chờ đợi chồng đi chiến trận. Nỗi đau đó càng lớn hơn khi những tưởng Quân- chồng chị trở về để bù đắp lại những mất mát, nhưng một lần nữa chiến tranh lại cướp đi chồng chị trong âm thầm. Cánh hoa lưu lạc nói về nhân vật Hụê gặp phải hoàn cảnh trớ trêu trong hạnh phúc, lưu lạc như cánh hoa vô định vì đôi khi "dại dột, sa ngã". Song cô đã tìm ra lối thoát cho mình; cuộc sống muôn hình, muôn vẻ dù đầy cạm bẫy nhưng sợ gì không đứng vững được... trừ khi ý chí con người bỏ cuộc, hãy vững bước đi lên. Đó phải chăng là thông điệp mà tác phẩm muốn gửi tới người đọc. "Tôm núi" là câu chuyện cảm động, đau lòng của người làm công tác khoa học, rất yêu nghề, nhưng trong cuộc sống đời thường phải vất vả, bươn chải để nuôi sống bản thân và gia đình, mày mò nghĩ cách... dẫn đến cái chết oan khiên khi đi kéo vó tôm đụng phải mìn nổ. Cõi linh là truyện ngắn chứa chan tính nhân đạo- thông điệp mà tác giả muốn gửi tới là khi con người dù tội lỗi đến mức không thể chấp nhận được nhưng cuối cùng do một tấm lòng nhân hậu, bao dung của người thân, bạn bè... thì con người đó vẫn còn có thể trở về với cuộc sống đích thực, trở về với cuộc sống làm người. Mỗi truyện ngắn mang một vẻ riêng, mỗi câu truyện đều có xuất xứ, viết về nỗi buồn, niềm vui, sự "ẩn ức"... Quy luật của muôn đời thường là vậy, dường như người nặng tình cảm thì khổ. Nhưng "đã mang lấy nghiệp vào thân", Lê Công vẫn cứ lao theo. "Hành trình cuộc sống là chuyến đi thất thường với những gian truân, có ngọt ngào, rồi tiếp đắng cay, ngậm ngùi". Điều đó được thể hiện rõ trong tập truyện. Nếu phải bắt buộc chọn một truyện ngắn thì tôi sẽ chọn truyện Sám hối muộn. Bởi đằng sau câu truyện cảm động về tình bạn, tình yêu, có những lúc tôi rất thích thú với những đúc rút, những quan niệm mà Lê Công gửi trong truyện: "Hỡi tất cả các mỹ nhân hãy đừng làm đàn ông hy vọng, bởi đó là chiến tranh, là đổ máu, là chết chóc dù không có tiếng súng" (Sám hối muộn, tr. 173); hay "Con người ta đôi khi cứ nghĩ mình là thánh thiện, còn kẻ khác là xấu xa" (tr.176). Câu chuyện kết thúc không có hậu, nhưng lại khiến người đọc phải suy tư về chất nhân văn mà tác giả gửi gắm, quan niệm về tình bạn, tình yêu, cuộc sống... Với tình yêu và niềm đam mê, Lê Công vẫn miệt mài. Chờ mong ở anh với những truyện ngắn hay hơn nữa... mà người đọc có thể thêm một lần được cùng anh chiêm nghiệm về cuộc sống, về tình người, tình đời...
Tôi biết Lê Công từ thời anh còn công tác ở Viện Hạt nhân Đà Lạt, anh là một nhà khoa học được đào tạo bài bản, từng đi thực tập sinh ở Ấn Độ những năm 1990-1991, nhưng lại "dính" vào đam mê cái nghiệp văn chương và thời đó, tôi còn là một sinh viên. Thế rồi tôi tốt nghiệp, được ở lại trường làm công tác giảng dạy. Tôi vẫn thường gặp anh, nói đùa và khâm phục: anh vẫn vừa làm khoa học vừa "giải nghiện" bằng... văn chương với một liều cao. Sức viết của anh thật khỏe!

Lê Công tại New Delhi -Ấn Độ -1990
Lê Công tại Tokyo- Nhật Bản 2001
Mở đầu tập truyện là Đối mặt, với giọng văn tự sự chất phác, tác giả đã kể lại chuyện bằng tâm thức như truyện cổ tích: lòng tham vô đáy của Nhẫn- người đã sống bằng sự mưu mô, chà đạp đồng chí, đồng nghiệp rồi kết cục sẽ nhận lấy cái chết vì bị nhiễm độc phóng xạ.
Hồ Xuân Hương - Đà Lạt, nơi Lương thường đi cắt vó tôm