Kỷ NIệM 36 NĂM NGÀY MấT CủA Nữ SĨ TƯƠNG PHố! Tương Phố.jpg

      Nữ sĩ Tương Phố tên thật là Đỗ thị Đàm, sinh năm 1900 tại Bắc Giang, người tỉnh Hưng Yên, di cư vào Nam năm 1954, bà mất ngày 14 tháng 10 năm Quý Sửu tức ngày 8/11/1973  tại Đà Lạt.

Bà sinh ra trong một gia đình nho học, thân sinh của bà là một nhà nho thanh bần. Hồi nhỏ bà học chữ Hán với thân phụ, và học chữ Pháp tại trường công lập ở tỉnh nhà Hưng Yên . Năm 17 tuổi bà từ Bắc Giang về Hà Nội vào học trường nữ sư phạm. Ở đây, cô nữ sinh trẻ đẹp con nhà nề nếp gặp chàng sinh viên trường thuốc Thái Văn Du, em trai Thượng thư Thái Văn Toản.

Họ yêu nhau tha thiết và trở thành vợ chồng. Năm sau, bà sinh con trai và đặt tên là Thái Văn Châu, rồi chồng bà qua Pháp du học. Và rồi ông bị bạo bệnh, về Huế vào mùa thu, vĩnh biệt cũng vào mùa thu. Người vợ trẻ đau khổ trước cảnh đời, hoà nước mắt viết nên "Giọt lệ thu". Mới 28 tuổi và với tác phẩm đầu tay, cái tên Tương Phố đã nhanh chóng chiếm được cảm tình của bạn đọc, nhất là đám nữ sinh thành thị. Bà nổi tiếng một thời và đến nay cũng chưa có ai trong các nữ thi sĩ Việt Nam dám ngồi ngang ghế với Tương Phố về loại thơ bi thương này. Bà làm thơ để khóc chồng mà chính là để khóc cho cái thân phận đơn côi của chính mình. Những giọt lệ đầy vơi của kẻ còn người khuất.Sau khi chồng mất nữ sĩ đem con về nương cùng cha già.
Năm 1949, bà vào Nam và sống ở Nha Trang . Năm 1969, bà dọn lên ở cùng với con trai  là giáo sư Thái Văn Châu lúc bấy giờ là một công chức cao cấp ngành Thủy Lâm, làm việc tại Đà Lạt..

Nữ sĩ Tương Phố nổi tiếng với tập thơ "Giọt Lệ Thu" là tập thơ khóc chồng của bà, "Giọt lệ thu" được đăng trên báo "Nam phong" năm 1928, cùng với bài "Linh phượng", tập "Lệ ký" của Đông Hồ. Và được nhà xuât bản Ngành Mai ở Hà Nội in thành sách năm 1952. "Giọt lệ thu" thực sự viết năm 1923, bằng lối văn biền ngẫu, xen thơ lục bát, song thất lục bát. Đó là một bài thơ trường thiên làm theo lối thi văn liên hành, "là những tiếng khóc âm thầm, những dòng lệ sụt sùi liên tiếp như mưa thu, hết cơn này đến cơn khác, lạnh lẽo điu hiu", "Giọt Lệ Thu" đã khơi dòng văn chương lãng mạn sầu não trong văn học Việt Nam hiện đại. Tác phẩm của Tương Phố đã được dịch ra tiếng Pháp từ năm 1930. Nỗi buồn mùa thu đã đến tay bạn bè trên thế giới. Và, họ nhận ra "Giọt lệ thu" là nỗi buồn thời đại, một trong những nỗi buồn văn chương. Bà đã trở thành chứng nhân của nỗi buồn thời đại và thi ca lúc sinh thời

Năm 1960, tập thơ thứ nhì của nữ sĩ là "Mưa Gió Sông Tương" được nhà xuất bản Bốn Phương ở Sài Gòn ấn hành. Sách in thật công phu. Thơ trình bày trên giấy nền gấm vẽ sáu kiểu: Vươn giả hương, Hồ điệp xuyên vân, Ngọc Lân hí cầu. Tức là nền vẽ lan, mai, trúc, cúc, bướm , lân. Nét họa của Đông Hồ. Trông thật trang nhã đài các.
"Mưa Gió Sông Tương" gồm những giai tác soạn từ 1915 đến 1949 và gồm nhiều thể: thất ngôn, lục bát, song thất lục bát. Hai thể sau chiếm đa số. Cũng là một số bài làm theo lối thi văn liên hành như "Giọt Lệ Thu".

"Giọt Lệ Thu" là một tiếng khóc chồng dài dặc liên mien.

"Mưa Gió Sông Tương" là những mảnh tâm sự của con người đau khổ trong những ngày xa chồng, trong những ngày góa bụa, và trong lúc phải bước lên "cầu tái tiếu" .

 Trong nửa đầu thế kỷ XX, cùng với sự biến chuyển sâu xa và sôi động về xã hội và về tư tưởng, đã xuất hiện trên thực tế, phong trào " Nữ lưu văn học". Tên tuổi của nữ sĩ Tương Phố gắn liền với phong trào này. Thế hệ nữ văn sỹ có thể xem là trước bà gồm có Mai Am , Sương Nguyệt Anh , Đạm Phương , Sầm Phố , Trần Ngọc Lầu... Cùng thời với bà có thể kể đến: Cao Thị Nhuỵ, Nhàn Khanh, Như Không, Bà Bang Nhãn...Thế hệ sau bà một chút là Vân Đài , Hằng Phương , Mộng Sơn , Thu Hồng, Nguyễn Thị Manh Manh, T.T.Kh, Mộng Tuyết... Trên diễn đàn báo chí và sau đó là trên lĩnh vực xuất bản các sáng tác văn chương của phụ nữ khắp Trung - Nam - Bắc đã tạo nên một mảng riêng, độc đáo, đóng góp xứng đáng vào bức tranh văn chương chung của dân tộc của nửa đầu thế kỷ XX.

Nữ sĩ Tương Phố cùng với Ngân Giang là 2 nữ sĩ vinh dự có mặt trên lễ đài Ba Đình trong lễ Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ngày 2-9-1945.

Năm 1973 bà qua đời tại Đà Lạt.

Nơi bà an nghĩ là ngọn Tương Sơn,. Vốn xưa ngọn núi thấp thuộc rặng Lang Bran này chưa có tên. Từ ngày nữ sĩ về đây yên nghỉ người đời mới gọi là Tương Sơn. Sinh thời, nữ sĩ đã chọn nơi đặt phần mộ cho mình. Cả ngọn đồi chỉ có mình bà yên nghỉ, hướng về phía Bắc quê hương. bên kia núi là nơi con trai bà, ông Thái Văn Châu, người con duy nhất nằm lại. Tấm bia mộ bà ghi: Tương Phố nữ sĩ chi mộ (1900-1973).

Thời gian trôi qua thật nhanh, kể từ ngày  năm 1973 - khi bà trút hơi thở cuối cùng đến nay đã tròn 36 năm.

Hôm nay 29.11.2009, tại phần mộ nữ sĩ Tương Phố trên đường Mimosa ( Đà Lạt), Gia đình cùng các thi nhân gần xa tổ chức trọng thể lễ tưởng niệm 36 năm ngày mất của nữ sĩ Tương Phố. Chắc bà sẽ ngậm cười chín suối bởi con cháu hôm nay đã nhớ đến bà và mong cho bà an giấc ngàn thu.

MỘT VÀI HÌNH ẢNH
Văn nghệ sĩ về dự lễ

Thắp hương viếng mộ Tương Phố

Trước mộ nữ sĩ Tương Phố

Ông Thái Dương Minh cháu nội của Nữ sĩ Tương Phố phát biểu

Ngâm thơ Tương Phố


Văn nghệ sĩ chụp ảnh kỷ niệm

Các bloggers chụp ảnh kỷ niệm