NHỮNG "ẨN ỨC" MUỐN CHIA SẺ TRONG TẬP TRUYỆN CỦA LÊ CÔNG

By Lê Công:

MỘT CẢM NHẬN TỪ TẬP TRUYỆN "CAO NGUYÊN MÊNH MÔNG"


 Tôi biết Lê Công từ thời anh còn công tác ở Viện Hạt nhân Đà Lạt anh là một nhà khoa học được đào tạo bài bản từng đi thực tập sinh ở Ấn Độ những năm 1990-1991 nhưng lại "dính" vào đam mê cái nghiệp văn chương và thời đó tôi còn là một sinh viên. Thế rồi tôi tốt nghiệp được ở lại trường làm công tác giảng dạy. Tôi vẫn thường gặp anh nói đùa và khâm phục: anh vẫn vừa làm khoa học vừa "giải nghiện" bằng... văn chương với một liều cao. Sức viết của anh thật khỏe!
Và để thỏa mãn đam mê sau khi anh được đi học Trường Viết văn Nguyễn Du khóa V anh đã chuyển hẳn sang công tác ở Hội Văn học nghệ thuật Lâm Đồng rồi làm quản lý. Cứ sợ quản lý sẽ khiến anh nghèo hơn về thời gian và cảm hứng. Nhưng không cơn "nghiện" để "giải tỏa" để chia sẻ vẫn thôi thúc anh viết. Từ truyện dài đầu tay Đà Lạt mùa phượng tím xuất bản từ 1992 đến tập truyện ngắn Thung lũng trắng nxb. Văn học ấn hành năm 1997 đến nay hàng loạt bút ký truyện ngắn tiểu thuyết... vẫn ra đời đều đặn. Năm nay 2009 anh lại cùng Nxb. Hội Nhà văn "khai sinh" tiếp tập truyện ngắn Cao nguyên mênh mông.

Lê Công tại New Delhi -Ấn Độ -1990
 

Qua "tập truyện ngắn chọn lọc" này người đọc bắt gặp một con người với những "ẩn ức" muốn chia sẻ luôn chất chứa trong một tâm hồn nhiều suy ngẫm chiêm nghiệm. Những chất chứa chiêm nghiệm cuộc đời đó của Lê Công được thể hiện ra bằng giọng văn tự sự không ồn ào khoe chữ mà giản dị đến chất phác. Nhưng điều quan trọng là anh đã truyền tải chia sẻ với người đọc nỗi niềm u uẩn cả nỗi buồn niềm vui sự mất mát đặc biệt là lòng đam mê chân thành. 21 truyện ngắn chọn lọc mỗi truyện mang một vẻ đề cập đến một lĩnh vực riêng mà Lê Công đã miệt mài quan sát sưu tầm chắt lọc và chiêm nghiệm trong những chuyến đi thực tế cũng như trong đường đi của cuộc đời. Từ những hiện tượng những mối quan hệ đời thường từ thực tế làm công tác khoa học cũng như những dấu ấn những suy ngẫm trong cuộc đời trong xã hội Lê Công đã trăn trở viết. Kiểu nghệ thuật "hồi tưởng" mà Lê Công hay s dụng trong hầu hết các truyện của tập truyện càng chứng minh cho những trăn trở đó của anh.


Lê Công tại Tokyo- Nhật Bản 2001
Mở đầu tập truyện là Đối mặt với giọng văn tự sự chất phác tác giả đã kể lại chuyện bằng tâm thức như truyện cổ tích: lòng tham vô đáy của Nhẫn- người đã sống bằng sự mưu mô chà đạp đồng chí đồng nghiệp rồi kết cục sẽ nhận lấy cái chết vì bị nhiễm độc phóng xạ.

More...

Kỷ NIệM 36 NĂM NGÀY MấT CủA Nữ SĨ TƯƠNG PHố!

By Lê Công:

 

Kỷ NIệM 36 NĂM NGÀY MấT CủA Nữ SĨ TƯƠNG PHố! Tương Phố.jpg

      Nữ sĩ Tương Phố tên thật là Đỗ thị Đàm sinh năm 1900 tại Bắc Giang người tỉnh Hưng Yên di cư vào Nam năm 1954 bà mất ngày 14 tháng 10 năm Quý Sửu tức ngày 8/11/1973  tại Đà Lạt.

Bà sinh ra trong một gia đình nho học thân sinh của bà là một nhà nho thanh bần. Hồi nhỏ bà học chữ Hán với thân phụ và học chữ Pháp tại trường công lập ở tỉnh nhà Hưng Yên . Năm 17 tuổi bà từ Bắc Giang về Hà Nội vào học trường nữ sư phạm. Ở đây cô nữ sinh trẻ đẹp con nhà nề nếp gặp chàng sinh viên trường thuốc Thái Văn Du em trai Thượng thư Thái Văn Toản.

Họ yêu nhau tha thiết và trở thành vợ chồng. Năm sau bà sinh con trai và đặt tên là Thái Văn Châu rồi chồng bà qua Pháp du học. Và rồi ông bị bạo bệnh về Huế vào mùa thu vĩnh biệt cũng vào mùa thu. Người vợ trẻ đau khổ trước cảnh đời hoà nước mắt viết nên "Giọt lệ thu". Mới 28 tuổi và với tác phẩm đầu tay cái tên Tương Phố đã nhanh chóng chiếm được cảm tình của bạn đọc nhất là đám nữ sinh thành thị. Bà nổi tiếng một thời và đến nay cũng chưa có ai trong các nữ thi sĩ Việt Nam dám ngồi ngang ghế với Tương Phố về loại thơ bi thương này. Bà làm thơ để khóc chồng mà chính là để khóc cho cái thân phận đơn côi của chính mình. Những giọt lệ đầy vơi của kẻ còn người khuất.Sau khi chồng mất nữ sĩ đem con về nương cùng cha già.
Năm 1949 bà vào Nam và sống ở Nha Trang . Năm 1969 bà dọn lên ở cùng với con trai  là giáo sư Thái Văn Châu lúc bấy giờ là một công chức cao cấp ngành Thủy Lâm làm việc tại Đà Lạt..

Nữ sĩ Tương Phố nổi tiếng với tập thơ "Giọt Lệ Thu" là tập thơ khóc chồng của bà "Giọt lệ thu" được đăng trên báo "Nam phong" năm 1928 cùng với bài "Linh phượng" tập "Lệ ký" của Đông Hồ. Và được nhà xuât bản Ngành Mai ở Hà Nội in thành sách năm 1952. "Giọt lệ thu" thực sự viết năm 1923 bằng lối văn biền ngẫu xen thơ lục bát song thất lục bát. Đó là một bài thơ trường thiên làm theo lối thi văn liên hành "là những tiếng khóc âm thầm những dòng lệ sụt sùi liên tiếp như mưa thu hết cơn này đến cơn khác lạnh lẽo điu hiu" "Giọt Lệ Thu" đã khơi dòng văn chương lãng mạn sầu não trong văn học Việt Nam hiện đại. Tác phẩm của Tương Phố đã được dịch ra tiếng Pháp từ năm 1930. Nỗi buồn mùa thu đã đến tay bạn bè trên thế giới. Và họ nhận ra "Giọt lệ thu" là nỗi buồn thời đại một trong những nỗi buồn văn chương. Bà đã trở thành chứng nhân của nỗi buồn thời đại và thi ca lúc sinh thời

Năm 1960 tập thơ thứ nhì của nữ sĩ là "Mưa Gió Sông Tương" được nhà xuất bản Bốn Phương ở Sài Gòn ấn hành. Sách in thật công phu. Thơ trình bày trên giấy nền gấm vẽ sáu kiểu: Vươn giả hương Hồ điệp xuyên vân Ngọc Lân hí cầu. Tức là nền vẽ lan mai trúc cúc bướm lân. Nét họa của Đông Hồ. Trông thật trang nhã đài các.
"Mưa Gió Sông Tương" gồm những giai tác soạn từ 1915 đến 1949 và gồm nhiều thể: thất ngôn lục bát song thất lục bát. Hai thể sau chiếm đa số. Cũng là một số bài làm theo lối thi văn liên hành như "Giọt Lệ Thu".

"Giọt Lệ Thu" là một tiếng khóc chồng dài dặc liên mien.

"Mưa Gió Sông Tương" là những mảnh tâm sự của con người đau khổ trong những ngày xa chồng trong những ngày góa bụa và trong lúc phải bước lên "cầu tái tiếu" .

 Trong nửa đầu thế kỷ XX cùng với sự biến chuyển sâu xa và sôi động về xã hội và về tư tưởng đã xuất hiện trên thực tế phong trào " Nữ lưu văn học". Tên tuổi của nữ sĩ Tương Phố gắn liền với phong trào này. Thế hệ nữ văn sỹ có thể xem là trước bà gồm có Mai Am Sương Nguyệt Anh Đạm Phương Sầm Phố Trần Ngọc Lầu... Cùng thời với bà có thể kể đến: Cao Thị Nhuỵ Nhàn Khanh Như Không Bà Bang Nhãn...Thế hệ sau bà một chút là Vân Đài Hằng Phương Mộng Sơn Thu Hồng Nguyễn Thị Manh Manh T.T.Kh Mộng Tuyết... Trên diễn đàn báo chí và sau đó là trên lĩnh vực xuất bản các sáng tác văn chương của phụ nữ khắp Trung - Nam - Bắc đã tạo nên một mảng riêng độc đáo đóng góp xứng đáng vào bức tranh văn chương chung của dân tộc của nửa đầu thế kỷ XX.

Nữ sĩ Tương Phố cùng với Ngân Giang là 2 nữ sĩ vinh dự có mặt trên lễ đài Ba Đình trong lễ Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ngày 2-9-1945.

Năm 1973 bà qua đời tại Đà Lạt.

Nơi bà an nghĩ là ngọn Tương Sơn . Vốn xưa ngọn núi thấp thuộc rặng Lang Bran này chưa có tên. Từ ngày nữ sĩ về đây yên nghỉ người đời mới gọi là Tương Sơn. Sinh thời nữ sĩ đã chọn nơi đặt phần mộ cho mình. Cả ngọn đồi chỉ có mình bà yên nghỉ hướng về phía Bắc quê hương. bên kia núi là nơi con trai bà ông Thái Văn Châu người con duy nhất nằm lại. Tấm bia mộ bà ghi: Tương Phố nữ sĩ chi mộ (1900-1973).

Thời gian trôi qua thật nhanh kể từ ngày  năm 1973 - khi bà trút hơi thở cuối cùng đến nay đã tròn 36 năm.

Hôm nay 29.11.2009 tại phần mộ nữ sĩ Tương Phố trên đường Mimosa ( Đà Lạt) Gia đình cùng các thi nhân gần xa tổ chức trọng thể lễ tưởng niệm 36 năm ngày mất của nữ sĩ Tương Phố. Chắc bà sẽ ngậm cười chín suối bởi con cháu hôm nay đã nhớ đến bà và mong cho bà an giấc ngàn thu.

MỘT VÀI HÌNH ẢNH
Văn nghệ sĩ về dự lễ

More...

MỘT SỐ HÌNH ẢNH BUỔI RA MẮT TẬP TRUYỆN NGẮN CỦA LÊ CÔNG

By Lê Công:

MỘT SỐ HÌNH ẢNH BUỔI RA MẮT TẬP TRUYỆN NGẮN CỦA LÊ CÔNG


MC Đam San giời thiệu đại biểu và chương trình!

Chủ nhiệm CLB Thơ TTVH tỉnh Lâm Đồng tặng hoa


Cây viết phê bình trẻ Thu Phương tặng hoa

Đại diện CLB Phóng viên tặng hoa

Nhà văn Chu Bá Nam phát biểu cảm nhận


Nhà thơ Hoàng Mai đặt câu hỏi


Nhà Văn Nguyễn Thanh Hương Chi Hội trưởng VHNT huyện Đạ Tẻh phát biểu ý kiến

Thạc sĩ Nguyễn Cảnh Chương giảng viên Đại học Đà Lạt đọc bài cảm nhận


Đọc một truyện ngắn theo yêu cầu của độc giả

More...

MỘT λ LƯU GIỮ LINH HỒN THƠ BÙI GIÁNG

By Lê Công:

 

 Ở góc núi Lâm Đồng có một người lưu giữ
linh hồn thơ Bùi Giáng!


Mặc dù bận rộn công việc cuối năm hơn nữa vừa bị té do nhậu với bạn thơ người đau ê ẩm   nhưng tôi vẫn quyết định đi xe máy đến thăm ông Ngọc Duy. Một người đàn ông ở một mình trong góc núi có một vườn thơ người lưu giữ những bức ảnh quý và linh hồi thơ Bùi Giáng.

Bước vào nhà bạn sẽ ngạc nhiên bởi những hình ảnh thi sĩ Búi Giáng do chính tay ông chụp. Nhưng bức ảnh chân dung Bùi Giáng có một không hai. Hỏi ông Duy có an hem bà con hay là bạn bè than thích gì với ông Bùi Giáng không thì ông bảo:  Không. Ông chỉ là một fan hâm mộ.


Chân dung Bùi Giáng do Ngọc Duy chụp- Ảnh LC chụp lại bằng máy điện thoại
Để hiểu rõ nguyên nhân có được những bức ảnh ông Ngọc Duy kể: "Từ nhỏ ông đã mê thơ Bùi Giáng. Cũng như bao người hâm mộ những nhà thơ của mình.

Tốt nghiệp phổ thong ông Duy lên Đà Lạt lập nghiệp bằng nghề chụp ảnh dạo rồi lập gia đình. Năm 1980 hai vợ chồng chia tay ông Duy để lại toàn bộ gia sản cho vợ dắt con gái về Sài Gòn sinh sống cũng với nghề chụp ảnh dạo. Ông ở trọ trong một con hẻm trên đường Trương Minh Giảng Q.3.

Một chiều đầu năm 1986 trên đường đi chụp ảnh ông Duy thấy một đám trẻ đang vây quanh một người đàn ông nhảy múa. Tò mò ông vào xem và như có giác quan thứ sáu ông đoán đó là thi sĩ Bùi Giáng.

Ngọc Duy rẽ đám đông bước vào hỏi:

"Xin lỗi ngài có phải là thi sĩ Bùi Giáng không ạ?"

Người đàn ông thôi nhảy múa và nắm tay Ngọc Duy kéo ra ngoài hỏi:  

"Sao anh viết ta?"

More...

PHÍA SAU NỖI BUỒN- Truyện ngắn của Lê Công

By Lê Công:

 

PHÍA SAU NỖI BUỒN
Truyện  ngắn của Lê Công

      Thế là Vĩnh đã chết. Tôi nhận được tin qua Thanh Mai. Vĩnh chết vì u não. Các bác sĩ bệnh viện Chợ Rẫy đã mổ chắt nước ra bằng một cái ống gắn sau ót. U nằm sâu vào giữa hai bán cầu não nên không dao kéo nào đụng vào được. Gia đình Vĩnh yêu cầu chuyển ra vừa ra đến Hà Nội thì Vĩnh chết lúc mười giờ tối qua. Thanh Mai bảo: "Anh có thể hoãn chuyến đi Nhật vài ngày sáng mai đến Bộ đi đưa tang anh ấy được không?".

            Sự việc bất ngờ này khiến tôi không thể không suy nghĩ. Vĩnh vừa là đồng nghiệp vừa là bạn của tôi gần hai mươi năm nay. Bây giờ  Vĩnh đã ra đi tôi mới có dịp nhìn lại quá khứ bởi vì cho đến hôm qua tôi vẫn như một con thiêu thân dẫm đạp lên Vĩnh để tiến về phía trước phía danh vọng cao sang và nữ thần ái tình.

            Nhiều lúc tôi thầm nghĩ: "Quái lạ cái số phận làm sao thằng Vĩnh cùng học với mình một lớp lại về cùng một cơ quan rồi ở đúng một phòng thí nghiệm. Tại sao hắn cứ đeo bám mình để đến nông nỗi này".

            "Mình sẽ hoãn chuyến bay". Tôi nghĩ ngợi: "Mình không hoãn thì thiên hạ sẽ coi mình là thằng sống tồi không có tình bạn bè đồng nghiệp".

            Tôi mặc comple thắt cà vạt rồi đi ra phố. Bước chân tôi vô định. Thật không ngờ hơn nửa đời người mới có một lần mất phương hướng. Ma đưa lối quỷ dẫn đường tôi đến đúng con đường hai mươi năm trước tôi đã cùng Vĩnh Mai dạo chơi. Cũng mùa hoa sữa nở. Hương hoa sữa thơm ngào ngạt ven hồ. Vĩnh trèo lên cây bẻ một cành cho Mai một cành cho tôi. Chúng tôi ngồi nghỉ bên hồ Thuyền Quang. Lúc nào Thanh Mai cũng chen ngồi giữa. Tôi bảo Vĩnh đọc bài thơ nghe. Chẳng phải tôi thích thơ Vĩnh mà chính tôi hay trêu chọc cậu ta là Mai-a-Vĩnh. Bình thường thì Vĩnh không đọc nhưng hôm đó chẳng hiểu để làm vui hay lấy lòng Mai mà cậu lên giọng hùng hồn:

            "Buổi sáng hôm nay đẹp tuyệt trần

            Anh nắm tay em em lặng thinh..."

            Thanh Mai cười ngặt nghẽo rồi đấm thùm thụp vào lưng Vĩnh: "Cầm tay em nào rồi thì khai đi?".

            Ra trường đời tôi suôn sẻ hơn Vĩnh. Tôi được một Viện lớn ở miền Nam nhận vào làm việc ngay. Vĩnh phải mất ba năm nghĩa vụ quân sự rồi mới về Viện làm ở phòng quản lý mãi mới chuyển qua chuyên môn. Vĩnh bảo "Tớ thích về cơ quan khoa học vì tớ nghĩ đây là môi trường trong sáng nhất". Vĩnh còn xin cho Thanh Mai sau ba năm không tìm được việc cùng về Viện một thể.

            Ngày ấy tuy cùng tuổi nhưng Vĩnh chững chạc hơn tôi. Vĩnh cho là may mắn được về công tác với tôi với Thanh Mai. "Cơ duyên của chúng mình đấy Thắng ạ!". Vĩnh bảo. Tôi nghĩ khác. Tôi là kẻ ghen tị bậc nhất thế giới. Nhận biết được lỗi lầm mà sửa chữa cũng là điều tốt. Nhưng tôi là kẻ ích kỷ không bao giờ cho mình có lỗi để rồi lỗi lầm cứ chồng chất.

            Tôi là kẻ không có tình yêu. Ngay từ hồi sinh viên tôi không yêu Thanh Mai. Tôi đi tán lăng nhăng hết chỗ này đến chỗ nọ thích cô này mái tóc cô kia cái lúm đồng tiền để tối về chẳng biết mình yêu ai. Cho đến khi Thanh Mai đã yêu Vĩnh rồi thì tôi mới cuống cuồng lên chạy maratong cũng không còn kịp nữa. Tôi đã ghét Vĩnh như ghét kẻ thù. Từ dáng đi giọng nói cho đến nụ cười của Vĩnh mà trước đây rất đỗi mến thương thì bây giờ tôi thấy sao mà đáng ghét. Tôi có thể phân tích ra những nét đồi bại trong các cử chỉ của Vĩnh. Rồi Vĩnh vượt xa tôi về học tập khiến sự đố kỵ của tôi vượt qua tầm kiểm soát của lý trí. Chính vì vậy Vĩnh mừng bao nhiêu khi được về công tác với tôi tôi càng phải dè chừng bấy nhiêu.

            Thanh Mai nói: "Em muốn không bao giờ lấy chồng để ba chúng mình mãi mãi chơi với nhau". Câu nói đó đã làm tôi suy luận: "Vậy là Thanh Mai không yêu Vĩnh". Đó là sai lầm lớn của tôi khi nhìn nhận một vấn đề. Hỡi tất cả các mỹ nhân hãy đừng làm đàn ông hy vọng bởi đó là chiến tranh là đổ máu là chết chóc dù không có tiếng súng.
 

Vĩnh về Viện chậm nhưng nhờ có kiến thức vững từ đại học nên đọc tài liệu nhanh. Vĩnh đưa ra nhiều cải tiến khiến tôi khâm phục. Khi về cùng phòng thí nghiệm với tôi Vĩnh đã hoàn thành xuất sắc đề tài. Ở đời ai có tài thì đã tài rồi chứ không phải đợi đến học hành đào tạo. Vĩnh là một trường hợp. Hắn có tài từ hồi học phổ thông. Hồi ấy quê tôi còn nghèo khổ.  Tôi thấy nhà Vĩnh chỉ ăn độc có cháo tấm nấu với rau lang. Thế mà năm nào Vĩnh cũng học xuất sắc. Dân làng gọi hắn là thần đồng. Tôi học chẳng kém gì hắn nhưng tôi "cần cù bù thông minh". Chỉ có từng ấy mà đến bây giờ tôi mới nhận ra thì Vĩnh đã chết.

            Ba năm ở Viện mà tôi chẳng làm được trò trống gì. Sáu tháng về Viện Vĩnh đăng ký hẳn một đề tài cấp Nhà nước. Mới đầu tôi cho Vĩnh là thằng chơi trội. Bây giờ tôi mới biết khoa học cũng phải dũng cảm dám nghĩ dám làm. Đã gọi là thí nghiệm cơ mà. Tại sao lúc nào tôi cũng đòi hỏi một quy trình tuyệt đối. Tôi liền gặp Ban giám đốc phản bác đề tài của Vĩnh. Nào ngờ nhiều vị lãnh đạo cũng dốt gặp "quân sư mặt mo" thế là không cần hỏi ý kiến ai khác cắt luôn đề tài của Vĩnh...

            Tôi đã đến cổng Bộ chúng tôi. Viện trưởng N. Viện phó P. và các đồng nghiệp của Vĩnh cũng đã đến. Trong sân ồn ào những lời hỏi han kể lể về cái chết của Vĩnh. Những lời tiếc nuối cho Vĩnh một phó tiến sĩ trẻ một nhà khoa học đầy tài năng.

             Một đồng nghiệp đến chỗ tôi bảo:

•-         Anh em mình đi xe máy đến trước đi. Em muốn nói vài lời với Thanh Mai.

Tôi hỏi:

•-         Xe của Bộ mấy giờ đi viếng?

•-         9 giờ 30.

•-         Có lẽ tôi đi xe hơi!

Mọi người vẫn tiếp tục chuyện trò còn tôi thì thẫn thờ. Mười lăm năm trước cũng tại nơi đây Vĩnh tiễn tôi vào Nam công tác. Thật tội cho nó làm như anh em ruột không bằng cứ quyến luyến không rời tôi một bước cho tới khi xe chuyển bánh cũng vẫn cứ bám vào thành xe.  Xe chạy xa rồi tôi vẫn còn nghe văng vẳng tiếng nó: "Nhớ viết thư cho tớ...". Ra công tác tôi chẳng hơi đâu mà viết thư. Bố mẹ đó mà tôi chẳng viết huống hồ là bạn. Bạn bè gì nó. Bấy giờ tôi nghĩ thế.

"Tình yêu không của riêng ai. Hạnh phúc là đấu tranh". Tôi quan niệm như thế nên tôi quyết định giành lấy Thanh Mai từ tay Vĩnh. Trước hết tôi phải hạ thấp uy tín chuyên môn của hắn. Tôi chơi thân với tổ trưởng rồi trưởng phòng. Tôi nói với mọi người: "Thằng Vĩnh là cái đếch gì tài gì nó chẳng qua chỉ là ảo tưởng mà thôi. Nó bị "hâm" nặng rồi". Đôi khi tôi cũng lỡ  lời: "Con Thanh Mai gầy đét cao khều lấy gì mà đẹp thế mà thằng Vĩnh làm như "tán" được hoa hậu không bằng!".

Ông trưởng phòng của tôi là một thằng cha kỹ tính. Một con ruồi bay qua cũng không thoát khỏi mắt ông. Hễ ai mách điều gì ông cũng ghi chép. Ông vốn có ác cảm với Vĩnh vì cậu cùng quê với phó giám đốc Chất người tranh đua chức giám đốc với ông. Tôi khai thác sâu điểm này và cứ hễ Vĩnh đến nhà ông Chất là tôi tâu với ông Luân trưởng phòng của chúng tôi. Ông Luân tức lộn ruột bảo: "Đồ ong tay áo". Ta phải "úm" nó ngay từ đầu mới được. Tôi đã đồng loã với kẻ xấu để tiêu diệt kẻ tốt. Vĩnh ơi!

Tôi tự tách khỏi hai người. Con người ta đôi khi cứ nghĩ mình là thánh thiện còn kẻ khác là xấu xa. Tại sao tôi ghét cay ghét đắng hai người. Tôi tởm lợm họ. Tôi muốn nhổ vào mặt họ nhưng chẳng có nguyên cớ gì. Thanh Mai cũng buồn nhưng cô khéo thỉnh thoảng cô vẫn đến thăm tôi làm như cô mới là người có lỗi. Tôi chợt ngửng lên nhìn Mai và giật mình: Mai đẹp hơn tôi tưởng tượng nhiều. Tôi muốn là kẻ ăn cắp là thằng đồi bại là tên mất trí còn hơn làm một kẻ bất lực trước sắc đẹp của thiên thần. Đôi mắt bồ câu sâu thẳm sóng mũi như lóng trúc vàng đôi môi đầy cám dỗ Mai đẹp thực hay tôi si tình? Câu hỏi đó ám ảnh tôi trong nhiều năm. Và kỳ lạ thay cho đến bây giờ tôi vẫn chưa thấy ai đẹp bằng nàng. Thế là cùng một lúc tôi nhảy vào hai cuộc tranh đua với Vĩnh: sự nghiệp và tình yêu.

Tôi tưởng tượng chút nữa sẽ nhìn vào quan tài lần cuối khuôn mặt Vĩnh. Sẽ nói với Vĩnh điều gì khi người nằm đó không còn là đối thủ của tôi nữa. Suốt cuộc chạy đua với Vĩnh tôi luôn níu chân anh lại và phản bội anh. Tôi đã nói xấu Vĩnh tại cuộc họp xét đi nước ngoài lần đầu tiên của Viện. Đã đánh gục đề án thứ hai của Vĩnh trước khi trình lên Bộ. Thế mà Vĩnh vẫn tốt với tôi. Kẻ thù vẫn vui vẻ với ta chứng tỏ hắn cao tay hơn ta.

More...

NHÌN LẠI SAU 1 NĂM THAM GIA VNWEBLOGS

By Lê Công:

NHÌN LẠI SAU 1 NĂM THAM GIA VNWEBLOGS
Ngày đầu đến với Blog (Thánh Ngã Nhím An An Nguyễn Đức Đát Lê Công Nguyễn Minh Châu)
Tham gia blog Yahoo360 độ đã lâu nhưng chưa vào Vnweblogs. Về Vũng Tàu sáng tác tôi được gặp các Bloggers của Vnweblogs ở đây thật tình cảm họ sống như một gia đình. Đó là nhà thơ Nguyễn Đức Mậu Nguyễn Đức Đát Tùng bách Nhím Tùng Anh An An Hướng Dương Phạm Minh Châu... Thế là tôi quyết định tham gia Vnweblogs.

Về dự hội ngộ các Bloggers Sài Gòn
  Số còn may về Đà Lạt một buổi tối Chủ nhật 30/11/2008 thử vào đăng ký  Bỗng thấy nhà quản lý cho phép. Cũng tự hỏi hay là có ai đó trùng tên mình đã tự ý rút ra. Vậy là từ nay mình có một blog do mình làm chủ và yêu thích.

Thành lập Hội Bloggers Đà Lạt
Có blog rồi nhưng thấy các anh chị Bloggers đã đi trước quá nhiều bài vở cũng chờn. Biết viết gì đây để có cái trình làng. Thấy các anh Tạo anh Vinh anh Nhất anh Hùng anh Thắng anh Đát anh Phong anh Sơn anh Hồng anh Tiên anh Tịnh... các bloger nữ như Tóc Mai  Ngọc yến Thanh Hoa Hà My... thật hấp dẫn và sôi động và hàng trăm blog khác cũng tuyệt vời thế là chùn bước.
      
Tiếp các Bloggers nữ Nha Trang
          Lại có một hai bloggers đưa nick ảo "dằn mặt" bằng những lời nặng nề mà không thể viết lại.  Thế nhưng nhờ sự động viên của bao nhiêu anh chị bloger đi trước tôi đã quyết tâm trụ lại.   

Giao lưu bloggers Bình Định có sự tham gia của Mai thanh Tịnh (Quảng Trị) và Tóc Nguyệt (TP HCM)
Thế là đến hôm nay blog Góc núi mù sương đã tròn 1 năm tuổi. Lecong đã post 171 bài viết hàng chục bức tranh và hàng trăm bức ảnh được 4139  góp ý và 35.822 lượt người xem.

Gặp gỡ các Bloggers Hà Nội-Hải Phòng

 Nhiều truyện ngắn được các website khác sử dụng một vài người bạn blog cũng ưu ái đăng lại một số bài thơ truyện ngắn tranh ảnh...

Gặp Chủ tịch Hội Bloggers Hà Nội và các nhà văn

Với tấm lòng thành xin chân tình cảm ơn gia đình bloger cảm ơn nhà quản lý VNWeblogs.   Cảm ơn quý anh chị em bloggers và bạn đọc lâu nay đã quan tâm chia sẻ cùng lecong-góc núi mù sương trong năm qua .

Giao lưu với các Bloggers Ninh Bình
 Đối với lecong-góc núi mù sương những tình cảm đó là rất thât đáng trân trọng và không ảo tí nào. xin gởi lời cảm ơn và tri ân đến các Bloggers.

Chúc gia đình bloger sức khỏe và lời chào trân trọng! 

Tình Blog
                                  12h30 đêm 28/11/2009


   

More...

MỘT NHÀ THƠ LÂM ĐỒNG GIỐNG TỔNG THỐNG OBAMA

By Lê Công:

MỘT NGƯỜI LÀM THƠ ĐI TU Ở GÓC NÚI GIỐNG OBAMA

Đó là Nguyễn Đức Vân con trai của nhà thơ Nguyễn Đức Sơn sống trên một ngọn đồi ở Bảo Lộc -Lâm Đồng.

Anh chọn con đường đi tu để giữ lây sự bình thản cho cuộc đời. Anh đã ra một tập thơ "Người đẹp" ca ngợi những bóng hồng phái mà anh đã không thể nghĩ tới nữa vì đã lỡ bước tu hành mặc dù hơn ai hết Đức Vân rất thích người đẹp.

Sau khi tập thơ Người đẹp rơi vào im lặng. Nguyễn Đức Vân về ở ẩn và lấy việc trồng sim làm vui thú. Anh đã lă5n lội khắp núi rừng bảo lộc tìm những cây sim hoang bứng về trồng. Ngày một hai cây thế mà anh cũng đã trồng được gần 3000 cây Sim thành một đồi sim tím ngát.


Nếu ông Obama không lên tổng thống thì chẳng ai để ý đến Nguyễn Đức Vân vì người  như Vân ở Lâm đồng rất nhiều.

Từ khi ông Obama lên làm Tổng thống mỗi lần Đức Vân đi ra cửa là người ta nhìn anh. "Sao mà giống Obama thế!"  . Đi ăn sáng uống cà fe người ta nói luôn: "Chào Obama".

More...

THAO THỨC ĐỒNG ĐỘI

By Lê Công:

 
THAO THỨC ĐỒNG ĐỘI

Bút ký Lê Công

Có một người chiến sĩ giao bưu  đã hy sinh rất anh dũng ngoan cường tại chiến trường Tuyên Đức nhưng dòng tên anh không được "khắc vào đá núi"  vì hơn 20 năm sau giải phóng vẫn chưa ai tìm được tên thật cho anh ngay cả quê quán cha mẹ họ hàng người thân và nơi chôn anh cũng đã bị mất dấu vết...

      Nhận được tin này từ ông Nguyễn Đức Thuận cán bộ công đoàn Bưu điện Lâm Đồng tôi liền tìm đến người đồng đội duy nhất còn sống sót nay đã nghĩ hưu tại Đà Lạt của liệt sĩ giao bưu trên ông Nguyễn Hữu Hào để tìm hiểu thêm.

Rừng thông nơi anh ngã xuống
  

Ông Hào người thấp đậm; hồi trẻ chắc ông cũng nhanh nhẹn nhưng bây giờ trông ông lờ đờ như người thiếu ngủ. Quả là ông cũng đã dằn vặt suy nghĩ nhiều về đồng đội nhất là người liệt sĩ giao bưu của đơn vị ông.  Anh tên gì? Quê hương anh ở đâu? Ai là người thân sinh ra anh?  Ông Hào đã nhớ lại rất kỹ cả trước và khi người giao bưu này về đơn vị nhưng không một chi tiết nào trả lời câu hỏi trên.

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ có biết bao người chiến sĩ giao liên giao bưu hy sinh đã được viết lên những bản anh hùng ca như anh Kim Đồng chú bé Lượm vv... nhưng cũng có biết bao người ngã xuống không tên tuổi.

Ông Hào kể: Vào năm 1968 sau cuộc tổng tiến công và nỗi dậy Tết Mậu Thân bọn dịch điên cuồng đánh phá khắp nơi "chà đi xát lại". Ở Đà lạt sau tết Mậu Thân "ta gặp nhiều khó khăn; toàn bộ lực lượng bộc lộ hết địch truy bắt một số bị tù một số bị đổi vùng. Cán bộ các đội công tác không vào được thị xã". Bấy giờ ông Hào thuộc Trạm giao bưu T371 đóng ở Núi Voi. Để tiếp tục giữ đường liên lạc vào lòng địch Thị uỷ tăng cường cho trạm một số liên lạc viên rất trẻ trong đó có một chú bé tuổi cỡ 14 15. Để giữ bí mật Trạm chỉ được biết tên anh ta là Nguyễn Văn Vạn người Bình Định ngoài ra không biết gì nữa.

Cậu Vạn người bé nhưng nhanh nhẹn. Cậu có nước da ngăm ngăm trán gồ ù lì ít nói. Cậu bảo quê cậu ở một vùng giáp ranh hàng ngày bom đạn tàn phá ác liệt. Cậu vào Đà Lạt làm thuê chăn bò đàn cho một ông chủ ở Trại Hầm (ông chủ này sau giải phóng không còn ở đây nữa). Hàng ngày đưa bò lên núi cậu được gặp gỡ tiếp xúc với bộ đội giải phóng lâu ngày thành quen thân và cậu đã đã xin các anh đi theo để phục vụ cách mạng. Sau này những người dìu dắt cậu chắc cũng đã hy sinh hết. Cậu chỉ kể cho ông Hào có bấy nhiêu còn có kể cho đồng đội khác nhiều hơn không thì ông Hào không biết. Nếu có kể thì họ cũng hy sinh hết rồi...

Người con này chịu thương chịu khó; bản tính chất phác hiền lành yêu quý đồng đội. Tất cả các đợt công tác anh đều hoàn thành nhiệm vụ. Dù nhiều lần gặp địch anh đã chống trả quyết liệt bảo vệ an toàn tuyệt đối tài liệu của Đảng không để lọt vào tay quân thù. Sau mỗi đợt công tác anh còn tranh thủ vào rừng hái rau hoặc xuống suối bắt cua bắt cá góp phần cải thiện bữa ăn cho thương binh trạm xá thị uỷ...

Thế rồi vào ngày 20-11-1970 ông Hào ngậm ngùi kể:- Chúng tôi được nhận nhiệm vụ vận chuyển công văn và và đưa đoàn cán bộ lãnh đạo của Thị uỷ từ trạm T371 (khu căn cứ thị uỷ Suối Cát) đến trạm T372 (khu Tam giác) thuộc xã Xuân Thọ. Bàn giao xong tôi và đồng chí Vạn trở về thì trời tối anh em chúng nghỉ lại trong rừng để sáng sớm mai đi tiếp. Chúng tôi vừa mới đến khu vực Đồi Bù thì gặp ngay Trung đội 302 lính nguỵ khét tiếng tàn ác nhưng chúng lại nguỵ trang mặc áo bộ đội mang súng AK đội mũa tai bèo vai khoác ba lô của quân giải phóng. Chúng tôi bán tính bán nghi chưa kịp hỏi mật khẩu thì địch đã bắn xối xả vào chúng tôi. Tôi và Vạn lăn ra một người một phía cùng hiệp lực chống trả. Bọn địch nhiều lần xông lên xiết chặt vòng vây hòng bắt sống chúng tôi. Với khẩu K50 Vạn đã trườn lên chống trả quyết liệt yểm trợ để tôi mang công văn tài liệu cắt rừng về đơn vị. Khi bọn địch sắp rút thì Vạn trúng đạn. Tôi còn thấy anh lão đảo rồi ngã gục. Đơn vị đã đến nhưng không cứu được anh. Chúng tôi chôn cất anh ở cạnh một bụi sim dưới rặng thông già. Chiến tranh ngày càng ác liệt địch thường phục kích đường giao liên chúng tôi ít có dịp đến thăm phần mộ của Vạn. Những năm sau đó giao bưu hy sinh nhiều. Chỉ tính ở Đà lạt Lâm đồng từ 1970-1975 đã có 55 giao bưu hy sinh. Ac liệt như thế tôi đâu có kịp hỏi rõ tông tích của Vạn...

Ngày chiến thắng trở về ông Hào đã báo với phòng thương binh xã hội thành phố về những người thuộc đơn vị ông hy sinh để nhà nước cấp Bằng liệt sĩ và báo tử cho bố mẹ vợ chồng hoăc người thân. Riêng Nguyễn Văn Vạn ông Hào đã đến cơ quan thị uỷ cũ để tìm lý lịch gốc nhưng cũng chỉ vẹn vẹn mấy giòng trên mà thôi. Oi! Nguyễn Văn Vạn một cái tên đồng đội đặt cho anh. chẵng lẽ anh là người từ trên trời rơi xuống. Oi có thể nào những người bạn những người đồng chí biết tên thật của anh đã hy sinh hết. Có lẽ nào bố mẹ anh người thân của anh cũng không còn.

Không thể để  con người có thật ấy chỉ có mỗi cái tên hiệu Nguyễn Văn Vạn mà chẵng ai biết đó là ai? Bao năm rồi điều đó day dứt mãi trong tâm hồn ông Hào. Người đội trưởng T371 đã nghĩ hưu. Có đến hàng trăm lần ông đến chổ Đồi Bù nơi Vạn đã hy sinh. Bây giờ người ta lại trồng thông phủ kín chẵng còn đoán biết được mộ anh ở chổ nào? Thời gian cứ qua đi qua đi. Ong Hào đã chờ ông chờ dù chỉ một người họ hàng đến hỏi Vạn là ông lập tức hợp tác để tìm cho được mộ của anh và trút bầu tâm sự về người đồng chí đã hy sinh mà bao nhiêu năm nay giữ mãi trong lòng...

Nhưng đã hơn 20 năm trôi qua. Lòng ông hào như lửa đốt. Ngộ nhỡ mình có mệnh hệ gì mà phải ra đi thì coi như Vạn đã không có ở trên đời. Phải tìm cho được mộ anh rồi mới nói đến tìm tông tích cho anh...

Đà Lạt thanh bình. Bầu trời trong xanh sâu thẳm đến vô cùng. Những rặng thông những đồi cỏ rung rinh cười trong nắng mới. Đoàn xe của Bưu điện tỉnh Lâm Đồng một lần nữa lại lặng lẽ tiến về phía Đồi Bù để ông Hào cố nhớ mà xác định vị trí nơi chôn đồng chí Vạn. Trên đoạn cỏ săng này chính là lối ông cùng đồng chí Vạn chọn để băng về trạm. Đây chính chổ này đây bọn địch phục kích. Lúc ấy chính Vạn đã nói: "Anh Hào ơi hình như bộ đội giải phóng?". "Không hẳn đâu khéo bọn địch trá hình!" Rồi thì chính đoạn này chúng tôi bị địch bất ngờ nổ súng. Ông Hào đập tay vào trán đăm chiêu. Ở đây hồi ấy còn có mấy cây thông cao vút. Phải rồi vùng này; nhất định vùng này bởi khi anh em đào huyệt để chôn Vạn tôi có ngước nhìn lên và ước khoảng dốc kia tới đây chừng 15 mét...

Những người đi tìm mộ đã đào họ đào hết vị trí này đến vị trí khác. Quả thực họ cũng đã thấm vào máu nỗi thao thức đồng đội của ông Hào. Vạn chỉ còn một chút xương ở nơi này nữa thôi phải cố tìm cho được.

- Thấy rồi!...

Mấy người cầm xẻng kêu lên khi đào phải tấm vải tăng và biết ngay là dùng dể bó chiến sĩ hy sinh mai táng. Và thế là họ đã tìm được hài cốt người chiến sĩ  giao bưu Nguyễn Văn Vạn.

Ông Hào dàn dụa nước mắt : "Vạn ơi em sống khôn chết thiêng sao bây giờ em mới cho anh tìm thấy mộ. Bố mẹ em quê quán em ở chổ nào cho anh biết nốt đi để anh về tạ tội cụ vì có lẽ đã ba mươi năm cụ chẳng biết em sống chế thế nào?".

Tại nghĩa trang liệt sĩ Đà Lạt ông Nguyễn Hữu Hào nói với các cán bộ Bưu điện có mặt hôm đó với giọnh nghẹn ngào:

- Chiến tranh đã qua đi lâu rồi nhưng chưa bao giờ tôi cảm thấy thanh thản. Tôi coi Liệt sĩ Nguyễn Văn Vạn như chính em ruột của mình. Tìm được hài cốt đồng chí Vạn đưa về nghĩa trang là nguyện vọng của anh em đồng đội bản thân tôi cũng thanh thản một phần. Nhưng đây cũng chỉ mới làm được một việc còn một việc nữa là phải tìm cho được tên thật và thân nhân đồng chí Vạn...

Ông Nguyễn Đức Thuận người có mặt trong buổi lễ truy điệu và an táng Liệt sĩ Nguyễn Văn Vạn tại nghĩa trang Đà lạt xúc động kể với tôi: "Hôm đó giữ lễ truy điệu còn có  các đồng chí giao bưu năm xưa đã từng công tác chiến đấu với liệt sĩ Vạn có đại diện của Thành uỷ... Các đồng chí thực sự xúc động tràn đầy nước mắt. Tuy Nguyễn Văn Vạn hy sinh đã gần 28 năm nhưng nhìn quang cảnh nhìn đồng chí đồng đội của anh tôi có cảm giác như nghe đâu đây có mùi thuốc súng của ngày hôm qua. Ngồi bên phần mộ của anh chúng tôi nghĩ về quê hương anh một miền quê của Bình Định năm xưa nghèo đầy bom đạn có cha mẹ già luôn trông ngóng người con đi xa... và các cụ có biết đâu chính các cụ đã sinh ra người con ưu tú dám hy sinh thân mình để tô thắm ngọn cờ giải phóng quê hương...".

Vâng. Là người câm bút viết chuyện này tôi cũng đã thao thức. Chiến tranh còn có điều gì chưa biết nữa đây. Tôi cũng có ba người chú ruột hy sinh trong chống Pháp và chống Mỹ có hai chú đến nay cũng chưa tìm được mộ. Ông bà tôi đã mất. Nếu không có những người đồng đội như ông Hào nếu không có sự quan tâm như cơ quan Bưu điện Lâm Đồng thì bao giờ người cha người mẹ của liệt sĩ Vạn tìm thấy mộ con mình. Chẵng biết lúc này có người cha mẹ nào đã nhận ra đứa con của mình chính là liệt sĩ Nguyễn Văn Vạn kia không? Chắc chắn một ngày nào đó sẽ có người ruột thịt của anh Vạn đến ghi tên thật lên mộ cho anh. Thưa anh Nguyễn Văn Vạn thưa các anh hùng liệt sĩ vô danh có thể các anh đã ngã xuống không một lời trăn trối thậm chí mất cả tên; nhưng chính các anh là những con người sống mãi với sự nghiệp giãi phóng quê hương. Chúng tôi những thế hệ của hoà bình cũng đang nghĩ về anh...
                                                                                                                          LC

Nơi ấy giờ nhà cửa đã mọc lên

Mộ anh đã được quy tập về nghĩa trang LS Đà Lạt

Các cháu học trò chăm sóc mộ liệt sĩ

More...

HỘI NGỘ MÙA ĐÔNG HÀ NỘI

By Lê Công:

 

GẶP GỠ MÙA ĐÔNG HÀ NỘI

Anh Nguyễn Trọng Tạo chụp ảnh với các nhà văn:
Đàm Khánh Phương Chu Lai Nguyễn Việt Chiến Trần Quang Đạo Lê Công


Blogger Nguyên đầu bạc thì cười Chủ tịch Hội Bloggers Hà Nội thì say chụp hình vậy có thơ rằng:

Anh Tạo chuyên gia chụp hình

Ở đâu cảnh đep thình lình chụp ngay

Lê Công quả thật đào hoa
Hễ mà có mặt "em" sà đến ngay?!

Gặp nhau nhớ nhớ thương thương
Bao nhiêu kỷ niệm vấn vương trong lòng

Mang hoa Đà Lạt tặng em
Đường xa vất vả tình thêm thắm nồng

More...

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI CỦA LÊ CÔNG

By Lê Công:

     GIỚI THIỆU SÁCH MỚI CỦA LÊ CÔNG                

Trong những ngày buồn LC không biết làm gì hơn là ra tập sách. Tập truyện gồm 21 truyện ngắn mang ý nghĩa là đã  qua thế kỷ 21. Sách dày 275 trang In tại xí nghiệp Bản Đồ đồ Đà Lạt...

          LC sẽ lần lượt giới thiệu trên các Entry sắp tới để bạn bè  cùng thưởng thức!SÁCH MỚI CỦA LÊ CÔNG

Trong những ngày buồn LC không biết làm gì hơn là ra tập sách. Tập truyện gồm 21 truyện ngắn mang ý nghĩa là đã  qua thế kỷ 21. Sách dày 275 trang In tại xí nghiệp Bản Đồ đồ Đà Lạt...

          LC sẽ lần lượt giới thiệu trên các Entry sắp tới để bạn bè  cùng thưởng thức!

Trên đây là một truyện ngắn rút trong tập:             
HỔ THẦN       

Truyện ngắn của Lê Công

Ẩn dưới chân núi chân núi Lang Bian dãy núi chạy dài theo bờ biển đến đây thì ăn ra tận ngoài khơi chia thành nhiều đảo nhỏ. Làng Trẻn trông như một con hổ xám khổng lồ không hề khuất phục trước những cơn đổ lửa của mặt trời thiêu đốt hoặc của những trận cuồng phong của bão biển. Về mùa hè dân làng Trẻn còn phải chịu những cơn gió tây nóng rát chỉ còn chui vào bụi rậm mà nằm thoi thóp.

Như vạn vật sinh ra trên đời hắn có một cái tên: thằng Lù. Lù là lù mù lờ mờ. Mẹ hắn bảo thế. Chẳng biết cha hắn vì bất đắc dĩ sinh ra hắn hay vì lẽ gì mà gọi hắn là Lù. Mọi đứa con sinh ra trên cõi trần đâu phải đều có chủ định. Lù luôn luôn tự hỏi mình là ai? Nguồn gốc của mình như thế nào? Tại sao cha mình không kể cho mình biết?

Thằng Lù-ảnh minh họa

Bất chấp nắng gió. Lù lớn lên như một mãnh hổ. Da sần sùi như da trâu. Tóc quăn tít. Trán như đóng chữ thập mỗi khi nhướn mày lên. Môi cắt ra có thể làm được một bữa nhậu. Lưng hắn như tấm phản. Giọng nói ồm ồm như nước chảy vào thùng rỗng. Hắn đi đứng khệnh khạng. Mặt lúc nào cũng cúi gằm xuống đất.

Âm điệu giọng nói của Lù cũng như âm điệu giọng nói của làng Trẻn chính là do ăn mắm. Làng này có cái lạ cá mú để ươn bao giờ cũng đắt hơn cá tươi. Những người dân chài đến bán cá thường ngạc nhiên về làng Trẻn chọn mua những con xẻ ruột. Làng Trẻn làng nước mắm hoàn toàn khác với dân vạn chài. Họ mua cá ươn ướp muối rồi  bỏ vào vại. Dùng một tấm đan tròn bằng nứa ép lên trên dằn đá rồi phơi ra nắng. Họ đặt chính giữa một cái ống nứa gọi là "lù" để chắt nước mắm ra ăn mỗi ngày. Nhà nào cũng có một vại nước mắm để trước sân. Những ngày đẹp trời vạn chài được cá thì làng Trẻn cũng sặc mùi nước mắm. Mùa đông hoặc những năm mất mùa cá là Trẻn còn muối cả chân trâu lợn gà làm mắm. Bây giờ vạn chài sản xuất đủ loại nước mắm kể cả mắm viên nhưng làng Trẻn chỉ thích ăn thứ nước mắm do chính tay mình muối. Thứ nước mắm mà Lù nhớ mãi khi thả miếng thịt lợn luộc vào bát nước chấm mới chắt từ vại ra lật qua lật lại cho mắm thấm đều trong mỗi rong thớ rồi thả tõm vào miệng nhai ngồm ngoàm đến đâu   chất béo trộn với vị đậm đà của mắm tan vào lưỡi ngất ngây đến đó.

Hết chiến tranh ông Sáng cha của thằng Lù trở về cày ruộng nuôi con. Với ông cuộc sống đã an bài. Tương lai chỉ vào thằng con trai đã lớn.  Nhưng thằng Lù con ông thật lạ lùng. Ba tuổi nó đã cào em chảy máu. Năm tuổi nó cắn bạn cùng lớp đứt thịt không gớm mồm. Mười tuổi thi bơi với con Xuân một con bé "mò cua bắt ốc" nổi tiếng bơi giỏi của làng. Hắn không bơi mà lặn xuống đáy sông tụt quần con Xuân rồi lên bờ ngồi làm con bé khóc sướt mướt về mách cha mẹ nó. Ông Sáng buộc phải đến gặp trực tiếp thầy Nho chủ nhiệm lớp bốn nhờ kèm cặp cho thằng Lù. Được ba bữa thầy Nho đến bảo: "Thằng Lù lười học lắm. Lúc nào cũng chực ngồi chực đứng chực  đi. Bài vở chẳng chịu làm". Ông Sáng dùng roi mây quất nó và bảo:

•-         Muốn nên người thì phải học hành tử tế!

Thằng Lù vẫn không chịu học. Chữ như gà bới viết trang sau xé trang trước. Vở lúc nào cũng nhàu nát. Nghe thầy Nho bảo mặt hắn vằn lên những đường gân trắng. Chữ thập ở trán sâu hoắm. Môi hắn trề ra quá cằm. Ông Sáng quát: "Mày muốn đi học hay đi cày?". Hắn bảo: "Đi cày!".

More...