| GÓC NÚI MÙ SƯƠNG |
Blog cho bạn bè Văn chương và Khoa học ... |
|
CÓ MỘT NGƯỜI LÀM THƠ Ở XỨ B'LAO lecong | 15/03/2010 07:04 |
|
GIỚI THIỆU NHÀ THƠ KHUẤT THANH CHIÊU Trong chiến dịch giải phóng Huế (Mậu thân năm 1968) anh bị thương và gửi lại tại đây một phần thân thể của mình. Sau đó, anh được điều về Bộ tổng tham mưu công tác ở Ban tuyên huấn của sư đoàn 300. Giải ngũ năm 1970, anh tiếp tục học đại học và được điều vào Lâm Đồng công tác và đảm đương các chức vụ như giám đốc xí nghiệp gỗ Bảo Lộc, giám đốc xí nghiệp gỗ Đạ Huoai, chánh văn phòng huyện ủy Đạ Huoai. Trước khi về nghỉ hưu năm 1990, anh được điều sang làm giám đốc khu du lịch Suối Tiên (Mađaguôi) và đã có công rất lớn trong việc xây dựng, tái tạo khu du lịch này. Anh đến với thơ từ rất sớm. Năm 18 tuổi đã có những vần thơ tâm huyết: Mười tám năm trong lòng quê ấm ủ Mẹ dạy yêu thương mái rạ luống cày Biết nâng niu từng củ khoai, rãnh mạ Biết chiến đấu vì ai trên mảnh đất này (Nửa tâm tình gửi lại quê hương) Anh đã mang theo hình bóng quê hương trong suốt dặm dài. Quê hương: đó là bờ tre, giếng nước, mái rạ, luống cày, là khói lam chiều, là mái đình cong vút là sống mũi cay cay khi nỗi nhớ tràn về: Tình xuân đã dậy trong lòng nắng Màu lá giong xanh gợi nhớ nhà Một cánh chim chiều tìm tổ ấm Chạnh lòng ai đón tết quê xa (Tết quê xa) Trong hành trang của người lính trẻ Khuất Thanh Chiểu luôn chan chứa lý tưởng, niềm tin, lẽ sống, tình yêu quê hương, tình yêu đôi lứa và có cả nỗi ấp ủ đợi chờ: Tiễn chân anh tay vân vê tà áo Má nở hoa tươi đôi lúm đồng tiền Hẹn nhé, chờ anh đến ngày thống nhất Em ngước mắt cười, vành nón nghiêng nghiêng (Nửa tâm tình xin gửi lại quê hương) Và có cả khí phách: "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, mà lòng phơi phới dậy tương lai" của một thế hệ thanh niên chống Mỹ: Vượt qua phà Kiểu đêm trăng dậy Bom Mỹ theo sau dội bến phà Sông Mã hiền hòa xô sóng đọng Căm hờn pháo đỏ rực trời hoa... (Qua phà Kiểu) Mặc dầu hòai bão lớn lao và bút lực dồi dào nhưng các tác phẩm của Khuất Thanh Chiểu lại không nhiều lắm bởi tính cẩn trọng của mình. Đối với anh, thơ văn không để giải sầu mà là trách nhiệm với đời, là tâm huyết của một con người, là nỗi trăn trở trước thực tại của đời sống. văn chương không để in sách, để đếm chữ, để tính bài mà văn chương phải là máu thịt: Có một dòng suy nghĩ Như dòng máu thẳm sâu Trải bất tận trong tim người chiến sỹ Từ ngôi sao trên đầu (Suy từ người lính) Quả thực anh là người rất có trách nhiệm với từng chữ mà mình viết ra. Bởi vậy khi đọc thơ hay truyện của anh, người đọc luôn cảm thấy có một cái gì đó phải suy nghĩ, chất chứa suy tư, chứ không trôi tuột đi như rất nhiều bài thơ trong thời buổi "ra ngõ gặp nhà thơ" này. Đọc thơ anh, ta thấy được cái tài hoa của người cầm bút: Tôi về Phú Lộc tìm xưa Cầu Truồi nghiêng bóng sông trưa lặng thầm Tre gầy lá cũng hoa râm So chi năm tháng chảy ngầm đáy sông Tôi về Phú Lộc ngồi trông Mây mờ Bạch Mã nắng cong Động Truồi... (Tôi về Phú Lộc) Có khi lại là sự lãng mạn chen lẫn với triết lý: Chân mây, liền trăng mờ tỏ Mạn thuyền cả gió Ai ngồi vớt lại thời gian (Tản mạn về đôi câu dân ca) Vâng, không gian ba chiều và thời gian một chiều. Vậy có thể nào tìm lại được thời gian đã mất chăng? Một sự thách đố, một sự khẳng định? Đọc câu thơ này của anh tôi lại thấy phảng phất cái triết lý của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn: Cả một đời làm kiếp con người Chợt một chiều tóc trắng như vôi Nhưng cũng có lúc anh đau đớn, rưng rưng trước sự lãng quên, trước sự khốc liệt của cơ chế thị tur7ờng thời mở cửa: Dấu chân bụi lấp đã đành Máu xương gửi lại sao thành người dưng? (Tôi về Phú Lộc) Những câu thơ gan ruột này, rõ ràng chỉ có ở những người đã từng trải qua ranh giới giữa sự sống và cái chết, đã từng đổ máu ở chiến trường như anh mới viết ra được. Và cũng như những nhàthơ khác, khi viết về mẹ, viết về quê hương, anh luôn thể hiện cả nỗi niềm đau đáu: "Nhật mộ hương quan Hà xứ Thị. Yên ba giang thượng sử nhân sầu"1. cái da diết của tình mẫu tử, cái ngậm ngùi của nỗi tha hương, cái nghĩa cả; tình sâu được dồn vào con tim, được dâng lên khóe mắt và cuối cùng được tuôn ra đầu ngọn bút. Hình ảnh "hoa gạo đầu làng rưng rức tháng ba" luôn là nỗi khắc khoải trong anh. Anh đã có những câu thơ chân chất, những lấp lánh ánh sáng trì tuệ: Vịn cầu vồng bảy sắc mẹ đi xa Mang theo trọn một đời giáp hạt (Tháng ba) Là người con hiếu thảo của quê hương, anh đâu có thể quên những ngày giáp hạt đó. Với những người dân quê "giáp hạt" là nỗi ám ảnh khủng khiếp. Cao cả thay cho những người mẹ suốt một đời "giáp hạt" mà vẫn nuôi con khôn lớn thành người. Như trên đã nói, văn cũng như thơ, đối với nhà văn Khuất Thanh Chiểu đều rất cẩn trọng. Bởi đó là những tra viết vừa mang tính hiện thực vừa có chiều sâu tư tưởng, ngầm chứa cả sự phê phán lẫn ước vọng "dĩ dân vi bản" nên có sức lôi cuốn rất mãnh liệt. Bút pháp của anh đa dạng, đa chiều, có những lúc êm ả, dịu dàng như lời tự bạch của cô sinh viên: "Anh hãy nhớ với em, trăng vẫn còn bóng lẻ, bông dẻ kia lẽ ra là của chung nhưng thật đáng tiếc cả anh và em đều không tìm không thấy" (Hương hoa dẻ). Nhưng ở truyện ngắn "Người ở lại bến sông" ta lại thấy một tình cảm dạt dào cao cả giữa những người bạn chiến đấu. Chỉ với một lời hứa trước lúc chia tay với người yêu mà Nguyệt đã hy sinh cuộc đời son trẻ của mình, không lập gia đình tự nguyện tìm về phụng dưỡng mẹ Hải, coi đó là mẹ chồng của mình khi Hải đã hy sinh ngoài mặt trận. Thử hỏi, có sự hy sinh nào cao cả hơn thế. Khuất Thanh Chiểu đã rất thành công khi khắc họa hình ảnh của Nguyệt. Nguyệt đã trở thành biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam với tám chữ vàng "Anh hùng - Bất khấut - Trung hậu - Đảm đang", và qua truyện ngắn này coi như đã tìm được lời giải cho sự trường tồn của dân tộc Việt trước sự xâm lăng. Dẫu rằng mất mát đau thương nhưng vẫn "giữa buồn đứng dậy sáng lòa"2, bởi người Việt Nam đã có sự chung thủy như nhất, tình yêu quê hương mãnh liệt với đức hy sinh cao cả. Nhưng cũng có khi anh lại dũng cảm đi vào các góc cạnh của cuộc sống, dám nói lên những điều mà người khác không dám nói. Truyện ngắn "Lão Phất" là một minh chứng cho điều này. Đất nước trong thời chuyển gia và đang còn nặng nề tệ hành chính quan liêu bao cấp thì không phải mọi điều tốt d0đẹp, và khuôn mặt nào cũng ngời lên hạnh phúc. Lão Phất có một kết cục bi thảm. Cái bi thảm đó đã hiện ngay trên khuôn mặt lão, khi lão xuất hiện với một sự mô tả báo trước sự tàn khốc của định mệnh: "Mặt lão nhăn nhúm, hệt như điểm cuối của cái vvó bè, nơi gắn vào miệng giỏ.". thực sự tôi đã rùng mình khi đọc câu văn tả thực đó. Và nó cũng khiến tôi nhớ tới nhà văn Nam Cao khi ông mô tả khuôn mặt chằng chit vết sẹo của CHí Phèo. Lão Phất là người đã từng ở trong quân ngũ, đã từng vào sống ra chết, nhưng khi đất nước được giải phóng chỉ xin làm một chân bảo vệ cơ quan cũng không được. Bởi những tiêu chí đặt ra không hợp lý của một cơ quan nọ. Đến khi kiếm được việc thì lão lại trở thành người lạc loài ởi không chịu ăn hối lộ, không chịu làm những điều khấut tất. Lời phàn nàn của lão Phất: "Đời có nhiều gái điếm mà không có một Făng - tin, nhiều cảnh sát mà không có một Gia - ve" phải chăng là nỗi bức xúc của hàng chục triệu người trước những tiêu cực của xã hội lúc bấy giờ. Vâng, Făng - tin, làm điếm nhưng đó là do xã hội đưa đẩy nhưng tâm hồn của Făng -tin vẫn thánh thiện. Gia - ve tàn nhẫn, lạnh lùng do lầm đường nhưng gia ve vô cùng chính trực. Cũng chính vì cùng chung nỗi bức xúc đó nên đôi khi Khuất Thanh Chiểu cũng có chút nản lòng: "Cái gì đã đến cũng là cái sắp lụi tàn" (Ký ức về một dòng sông). Nhưng rất may quan niệm đó đã nhanh chóng qua đi và anh lại tiếp tục thể hiện cái nhân hậu, thấm đẫm tình người trong "Con nuôi Thị Ủy". Nói tóm lại, với quan điểm "Văn dĩ tải đạo" Khuất Thanh Chiểu đã cố công tìm tòi phát hiện và chắt lọc từng câu, từng chữ nên các tác phẩm của anh đã được bạn đọc thừa nhận. Tác phẩm của anh xuất hiện trên nhiều báo, tạp chí trung ương và địa phương như: Sông Hương, VNQĐ, Lang Bian... và được bạn đọc hào hứng đón nhận. Một số tác phẩm: "Tôi về Phú Lộc", "Tản mạn về đôi câu dân ca" (Nhạc sỹ Thu Hường phổ nhạc), "Con nuôi Thị Ủy" đã được phát trên đài tiếng nói Việt Nam. Tác phẩm "Ai xui chim đậu" được giải nhì (không có giải nhất) cuộc thi thơ năm 2002 của Thị xã Bảo Lộc. Truyện ngắn "Con nuôi Thị Ủy" được giải khuyến khích báo chí Lâm Đồng lần thứ nhất. Truyện cực ngắn "Ngụy lý" được giải nhì của Hội ngộ văn chương và gần đây anh có bài thơ "Là hoa hay nước mắt?" được Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan đánh giá cao trong cuộc gặp gỡ với trẻ em chất độc da cam (của tỉnh Lâm Đồng) tại Hà Nội. "Quý hồ tinh, bất quý hồ đà" câu nói này thoàn toàn chính xác với trường hợp của Khuất Thanh Chiểu và chúng ta hy vọng sẽ được đón nhận những tác phẩm đặc sắc của anh trong thời gian tới. |
| Góp ý (3) |
|
MÙA XUÂN VỀ TRỄ lecong | 22/02/2010 06:50 |
|
| Góp ý (21) |
|
MÓN QUÀ ĐẦU XUÂN lecong | 08/02/2010 07:33 |
|
THƠ P.N. THƯỜNG ĐOAN MỘC anh ngồi ở một quán cà phê cốc, nhớ em không âm nhạc chỉ có những giọt cà phê hiền hòa ngập sương sáng lúc lắc bông lý xanh ngân quảng trầm quay quắt anh gởi cho em ngọn gió núi trong lành thơm tinh nguyên nắng sớm màu đất đỏ bazan viền rực môi cười bông cà phê đang nở rực nồng thơm rủ xuống này dốc cao dốc thấp ôm vòng thị trấn anh muốn có em trong vòng tay phía xa tiếng chim là tiếng người thánh thót lặng thật lặng anh ngồi thật lặng se từng vấn vương thả cuối dốc dài ở chỗ ngã ba có chuyến xe rẽ ngược tình yêu nằm giữa đường ray mỗi buổi sáng anh ngồi ở quán cà phề cốc, nhớ em anh gọi bên kia rừng xa tiếng thác Voi cười trái tim chân tình mộc như khói cỏ cay mắt người ở tận miền xuôi mỗi buổi sáng, thức sớm hơn lũ chim rừng, anh gọi anh gọi em bằng nắng mới Đinh Văn trời Lâm Hà nghiêng nghiêng miên man chờ đợi Sài Gòn sương không như khói... PHÙNG THIÊN TÂN MỘT ĐOẠN THƠ TÌNH VIẾT CHO ĐÀ LẠT Còn một sáng nay với Đà Lạt và em Anh dậy sớm để sương ùa vào cửa Để cái lạnh se cùng nỗi nhớ Đón bình minh tia nắng bảy sắc màu Chưa biết tên em anh đã thầm yêu Sáng nào cũng dõi theo em đến lớp Em ẩn hiện giữa phố đường nhiều dốc Như nàng tiên trong truyện ngày xưa Còn với em, với Đà Lạt một buổi trưa Nắng? Không phải, đấy là vầng sáng để Đà Lạt ngọc ngà khoe hết dung nhan Thành phố yêu kiều mãi thời con gái Còn một chiều với em Mưa bay... Rừng thông gió- bản tình ca Trời Đất Yêu ngàn đời chân thật mê say Anh sẽ xa, anh phải xa nơi đây Chưa biết tên em là điều duy nhất tiếc Nhưng như thế anh sẽ có suốt đời một dáng hình người đẹp Sống trong trí nhớ mình cùng thành phố cao nguyên. (1979) Thơ thiếu nhi NGUYỄN ANH ĐÀO XUÂN CỦA BÉ Luống hoa bé tưới mỗi ngày Sớm nay xuân đến đã thay áo hồng Đào phai giờ đã trổ bông Mai vàng khoe sắc - đóa hồng đỏ tươi Xuân về bé nở nụ cười Bé thêm một tuổi - mọi người thêm yêu Bóng bay bé thả sớm chiều Mùa xuân của bé- thật nhiều niềm vui.PHÊ BÌNH: "Lúng liếng Trang Nhung" của Ns Quỳnh Hợp NÉT XUÂN NỒNG THẮM HƯƠNG QUÊ
ĐỨC TIÊN Gần đây, trên lĩnh vực thi ca và âm nhạc có nhiều thanh âm mới mẻ, tươi trẻ như cuộc sống muôn màu của thời đổi mới. Quỳnh Hợp đã làm tôi thật sự ngưỡng vọng khi nghe trọn album ca nhạc "Lúng Liếng Trang Nhung" được Việt Tân Studio phát hành dịp Tết Canh Dần. Những miền quê đáng yêu, đáng nhớ dọc dài đất nước đã lay gọi niềm cảm hứng của người nhạc sĩ tài hoa. 12 ca khúc trong album sẽ đưa chúng ta du xuân ngắm cảnh quan đất nước trong rạo rực sắc xuân.
Tôi có dịp nghe những ca khúc của Quỳnh Hợp phổ thơ của Mai Thanh Tịnh như Hải Lăng đất mẹ ngọt ngào, Chiều lên đỉnh Sa Mù, Một thoáng phương Nam ... Tôi cảm phục và yêu mến những ca khúc ấy bởi cái tình nhẹ nhàng ẩn chứa trong giai điệu âm nhạc thanh thoát đậm đà "chất quê " được viết từ trái tim nhạy cảm, biết sẻ chia qua cái nhìn lãng mạn và rất chân thực. Ấn tượng sâu đằm của tôi với cái tên Quỳnh Hợp là khi nghe ca khúc "Một ngày nơi đảo Cồn Cỏ" Quỳnh Hợp phổ thơ Xuân Lợi đã được đưa vào phóng sự trên sóng truyền hình VTV1 dịp kỷ niệm 50 năm đảo Cồn Cỏ anh hùng (tháng 8/2009) mà nhiều anh em gọi là "Đảo ca".
Dù là những ca khúc viết về từng vùng đất riêng biệt, Quỳnh Hợp cũng đã có được niềm yêu và những cảm nhận tinh tế cùng khả năng chiêm nghiệm để những ca khúc ấy có được dáng vẻ tươi mới và cho thấy được sự khao khát vươn lên của một vùng đất.
Xuân Canh Dần năm nay, Quỳnh Hợp chào xuân mới bằng album ca nhạc mà cái tên đã cho ta cảm nhận nét quê đầy yêu mến và gợi cảm "Lúng liếng Trang Nhung". Mà... Trang Nhung xinh đẹp và lúng liếng thật. Cả giọng hát cũng lúng liếng và rất đáng yêu. Từng ca khúc với tiếng hát của ca sĩ Trang Nhung nối tiếp nhau tạo thành bức tranh quê đầy màu sắc long lanh mùa xuân.
Mở album ra nghe là cả một không gian gần gũi và cuốn hút. Giọng hát Trang Nhung trong trẻo, đong đưa và đằm thắm, dịu dàng; một chút kỹ thuật làm cho giọng hát ấy sang trọng hơn, văn minh hơn. Những ca khúc trong album mang âm hưởng dân gian nhiều vùng trên cả nước đã tạo được nét riêng trong ca khúc Việt đang ồn ào náo nhiệt của nhạc trẻ, nhạc thị trường hiện nay.
Mỗi ca khúc trong album "Lúng liếng Trang Nhung" có dáng vẻ riêng nhưng nét chung là tươi tắn rộn ràng, mượt mà duyên dáng. Đó là nét thanh tao, sâu lắng của văn hóa Hà Thành trong âm hưởng ca trù của Kìa em mùa xuân về, Một chiều với Tây Hồ; là sự lúng liếng, thánh thót của dân ca Tây Bắc trong Xuân rẻo cao, Chuyện tình hoa Ban trắng; chút duyên dáng đằm thắm của chị hai Quan Họ trong Mùa xuân trảy hội làng Lim; dáng vẻ đài các, trầm lắng của Đêm Sông Hương, Bà Nà mây vương; một chút xốn xang, say đắm của âm hưởng Tây Nguyên trong Chiều rơi, Đêm Lang Bian; Một chút huyền bí của Bâng khuâng tháp cổ và sự lóng lánh, mênh mang của Một thoáng Phương nam...
Quỳnh Hợp cũng là một nhạc sĩ có duyên với thơ. Cả 12 ca khúc trong "Lúng Liếng Trang Nhung" đều phổ từ thơ của các tác giả: Kpa Ylăng, Đặng Hồng Thiệp, Mai Hữu Phước, Nguyễn Đức Nam, Phan Tử Nho, Đoàn Hoài Trung, Mai Thanh Tịnh, Nguyên Vi, Dương Toàn Thiên, Xuân Quỳ... Những giai điệu được ngân lên hòa quyện lời thơ "thật ngọt" tạo nên sự cộng hưởng làm rung động lòng người. Nghe những ca khúc phổ thơ của Quỳnh Hợp, không tìm ra những ca từ gò gượng. Khi phổ nhạc cho thơ, Quỳnh Hợp không bị lệ thuộc hoàn toàn vào câu chữ của bài thơ mà chỉ nắm bắt được linh hồn của thơ để có được những biến cải sáng tạo vì thế lời ca ngân lên thanh thoát nhẹ nhàng và hết sức tự nhiên. Trong hành trình sáng tạo, không ít nhạc sĩ lặp lại chính mình hay âm hưởng đâu đây những giai điệu quen thuộc, nghe na ná bài này bài nọ. Ca khúc của Quỳnh Hợp mỗi bài có mỗi nét nhạc riêng, phong phú không làm nhàm chán người nghe.
Ở mỗi vùng đất, Quỳnh Hợp hình như đã nhập hồn vào sông, vào suối, vào khoảng trời ngọn núi, cỏ cây và "thấm" được cả âm hưởng dân gian của vùng đất ấy nên từ tiết tấu đến âm sắc trong từng bài ca ta nghe như có tiếng vọng của đất, tiếng rì rào của gió. Trong nhiều nhạc phẩm của Quỳnh Hợp, trên nền nhạc dương bản hình như có âm bản sóng đôi nghe xa xa tiếng con suối róc rách, tiếng sáo môi dìu dặt, tiếng gió, tiếng xào xạc của lá cây, tiếng ầm ào biển động...
Những ca khúc viết về những vùng quê cụ thể nhưng Quỳnh Hợp đẩy cảm xúc tới độ mê hoặc cái đẹp, cái quyến luyến yêu thương của lòng người với con người, với thiên nhiên cây cỏ hòa cùng âm hưởng dân gian đặc sắc của từng vùng. Trong âm nhạc của Quỳnh Hợp, giai điệu và tiết tấu dồn dập mà không xô bồ, rạo rực mà không rối rắm, tiếng nhạc không khác nào những bản tráng ca truyền hơi thở náo nức, sôi động tràn đầy niềm lạc quan phấn khích. Nhiều ca khúc của Quỳnh Hợp làm người nghe không tin được đó là những nốt nhạc rung lên từ con tim một nữ nhạc sĩ, thường được gọi là phái yếu.
Cũng là bảy nốt nhạc truyền thống ấy thôi nhưng nghe những tác phẩm của Quỳnh Hợp ta thấy sức sáng tạo của người nghệ sĩ phong phú và đa dạng. Sự biến ảo trong từng cung bậc bằng những thanh ca uốn lượn đã làm những câu ca trở nên sang trọng, quý phái. Những ca khúc của Quỳnh Hợp không quá bất ngờ, không có những đột phá gây xôn xao đời sống ca nhạc nhưng nếu đã nghe thì sẽ thích bởi ở đó là sự đằm thắm, lắng sâu và những cảm nhận rất mộc mạc, giản dị, gần gũi, "rất Việt" được viết từ cảm xúc rất thực, bằng bản năng thiên phú mạnh mẽ của người nghệ sĩ.
Nghe "Lúng Liếng Trang Nhung" của Quỳnh Hợp để thêm yêu những miền quê trên mọi miền Tổ quốc, thêm yêu những làn điệu dân gian độc đáo và quyến rũ đã làm nên sắc diện Việt để cùng đón xuân trong lung linh kỳ diệu của trời đất, nhắc chúng ta luôn nhớ về quá khứ và thao thức giữ gìn bản sắc riêng của cha ông, của dân tộc. |
| Góp ý (20) |
|
CẤP CỨU - Truyện vui lecong | 03/02/2010 06:55 |
|
CẤP CỨU Truyện vui
- Nhờ anh chạy gấp đến bệnh viện tỉnh. Xe dừng. Cánh cửa hông vừa mở, tôi bế thốc cha tôi vào phòng cấp cứu, đặt ông lên chiếc giường còn trống, bên cạnh hai giường khác có người đang ôm bụng, nhăn mặt. Ông bác sĩ ngồi trên ghế trực, xung quanh là ba bốn người cùng mặc blu trắng, đặt những lá bài đang cầm trên tay xuống bàn, thấy sự hốt hoảng của tôi, thong thả đứng dậy. - Bệnh gì? - Dạ... dạ... - Nằm thẳng ra. Kéo áo lên. Đau từ bao giờ? - Dạ, khoảng 10 phút. Rồi ông dùng cái đồ nghề muôn thuở đeo sẵn trên cổ, rà rà vào ngực cha tôi đang trong cơn nghẹt thở. Một phụ nữ áo trắng vừa buông những lá bài bước đến, cuốn đồ đo huyết áp vào cánh tay người bệnh. Tôi nhìn rõ nét mặt hoảng hốt của cô. Ông bác sĩ quay lại bàn làm việc, ngồi xuống ghế. - Tên gì? - Dạ, Trần Minh. - Bao nhiêu tuổi, ở đâu? - Dạ, 62 tuổi, ở phường... - Có bảo hiểm không? - Dạ, có - Nộp đây. - Dạ, chưa kịp... Biết sếp mình đã lập xong bệnh án, cô vừa đo huyết áp đập tay vào cánh cửa phòng sau lưng. - Hiền!... Hiền... Chuyển bệnh! Hiền chuyển... Từ trong phòng, một cô hộ lý quần áo xanh còn ngái ngủ, bước ra, thong thả đẩy chiếc xe lăn đến cạnh giường cha tôi đang quằn quại: - Đặt ông lên! Tôi vội bế cha tôi vào lòng chiếc xe lăn. Cô hộ lý ngoái lại: - Chuyển bệnh đến khoa nào ạ? - Tim mạch, nhanh, còn chuyển ca khác - Đẩy đi! Theo tôi. Tôi như con robot đang chịu sự chỉ huy vì đã lạc mất hồn. Đi được mười bước, bỗng cô quay lại. - Bệnh án đâu ạ? Ông bác sĩ vừa cầm mấy lá bài trên tay phải, dùng tay trái bốc một tờ giấy trên bàn đưa cho cô hộ lý, cô này nắm lấy rồi rảo bước theo tôi. - Lên lầu! Theo tay cô chỉ, tôi lập cập đẩy chiếc xe lăn đi lên theo mặt phẳng nghiêng của cái cầu thang chuyển bệnh. Sợ cha tôi tắc thở, tôi dùng hết sức đẩy xe khá nhanh, vượt dốc và tỏ ra không cần ai tiếp sức. Qua 2 vòng leo cua, đến một hành lang phẳng tôi đã nhìn thấy một tấm bảng mang hàng chữ to màu đỏ "Khoa tim mạch". Cô hộ lý tay cầm bệnh án đã vượt lên trước tôi, đến phòng hành chính, cô đập nhẹ tay vào cánh cửa. Một nữ bác sĩ bước tới chìa tay ra hiệu cho cô này đưa bệnh án. Bà đảo ánh mắt rất nhanh trên tờ giấy. - Bệnh này sao lại đưa lên đây? Xuống khoa ngoại! Bà bác sĩ với khẩu âm xứ Nghệ, nói như mắng cô hộ lý và ba tiếng cuối phát ra như một y lệnh. Cô áo xanh cầm lại tờ giấy rồi gắt lên với tôi. - Quay xuống tầng trệt! Tôi hốt hoảng vội vã xoay nửa vòng xe đẩy nhanh xuống cầu thang. Cha tôi rướn cổ, há miệng kéo vào từng chút không khí vào cái sống còn. Đã qua hai cua đi xuống, cô hộ lý vọt lên trước, qua một đoạn khoảng hơn trăm mét, tôi đảo mắt đã thấy một tấm bảng ở đầu hành lang rẽ ngoặt: "Khoa ngoại". Xe vừa đến đó, cô này bảo tôi: - Đợi ở đây. Cô ta đi thẳng vào phòng hành chính. Tôi cồn cào chờ đợi cái gì không rõ, bên cạnh người cha đang cơn nguy kịch. Khoảng năm phút sau, một bóng áo trắng từ trong phòng đi ra: - Anh vào ký cam đoan! Tôi để cha tôi đấy, chạy lại. Ông bác sĩ chỉ tờ giấy đã xoay ngược để trên bàn bảo tôi: - Anh là thân nhân của người bệnh phải không? Tạm nộp tiền viện phí một triệu hai. Ký vào đây để chúng tôi tiến hành phẫu thuật. Tôi ngớ người: - Các ông làm sao đủ khả năng phẫu thuật bệnh này mà bảo tôi ký giấy cam đoan. Cam đoan cái gì cơ? - Anh nói láo. Không đủ khả năng làm sao chúng tôi dám mổ. Anh có ký không? Không ký, ca này tử vong, chúng tôi không chịu trách nhiệm. - Trời ơi! Thế này thì cha tôi chết mất. Phải là giáo sư, bác sĩ khoa tim mạch can thiệp mới mổ cho cha tôi được chứ? Ông bác sĩ sấn đến trước mặt tôi: - Cha anh là ai? - Cha tôi là bố tôi chứ ai! - Đâu? - Kia kìa. Theo hướng tay tôi chỉ, ông ta và bốn năm người áo trắng trong phòng nhào ra cùng nhình con bệnh đã bạc đầu đang thoi thóp trên nền bê tông, miệng đùn đầy bọt rãi và loang lổ bụi đất. - Chết rồi! Không phải Ông bác sĩ la toáng lên: - Không phải bệnh nhân mười tám tuổi viêm ruột thừa cấp. Ông già đau tim, khẩn cấp! Đưa vào khoa hồi sức cấp cứu không qua tim mạch nữa. Rồi ông nhào tới, ôm thốc cha tôi chạy đi như người xông vào chữa lửa. Tôi và ba bốn tà áo trắng lật đật theo sau. Cánh cửa phòng vừa mở, ông bác sĩ đã đưa cha tôi chạy tọt vào trong cơn bấn loạn, tôi vẫn nghe rõ tiếng hô: "Lấy bình ôxy!". Cửa phòng sập lại. Tôi đứng sững quay lưng ngã phịch vào đó mà thở. Phó mặc tính mạng cha mình cho số phận. Tôi ngửa mặt lên, nhắm nghiền mắt. Mất hết cảm giác với xung quanh, tôi chậm rãi buông một lời vào mênh mông, không kịp ý thức là một câu khấn nguyện: "Cha tôi đã chết hụt ở chiến trường mấy lần rồi. lần này, lạy trời cho ông sống sót".
TRẦN MINH QUÝ
|
| Góp ý (3) |
|
Một số hình ảnh GẶP GỠ Văn học - Nghệ thuật BÌNH DƯƠNG lecong | 30/01/2010 08:08 |
|
GẶP GỠ BÌNH DƯƠNG Sáng 29-01-2010, tôi có dịp tham dự Đại hội Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Bình Dương.Tại đây tôi rất vui được gặp các bạn bè, các văn nghệ sĩ của xứ sở đặc biệt trù phú này!.![]() tham dự đại hội ngồi với ca sĩ Nguyễn Phương Thanh (Bình Dương) ![]() Tiết mục của ca sĩ Ánh Tuyết Theo báo cáo cho thấy bức tranh VHNT của Bình Dương phong phú cả về nội dung, đa dạng về đề tài. Về thơ có những cây viết mới xuất hiện, góp thêm sắc thái mới lạ, độc đáo cho làng thơ Bình Dương, như: Cát Du, Thanh Yến... Truyện ngắn, bút ký, tiểu thuyết cũng có nhiều đổi mới trong phong cách sáng tác, trong đó có những cây viết có tác phẩm tạo được ấn tượng tốt, như: Lê Minh Vũ, Lưu Thành Tựu, Phan Đức Nam... Nghệ thuật tạo hình của Bình Dương với truyền thống mỹ thuật hơn 100 năm, là chuyên ngành thu hút lực lượng HV tham gia sinh hoạt đông đảo, do đó, trong những năm qua, hội đã tổ chức nhiều hoạt động nhằm nâng cao tầm sáng tạo và cảm xúc nghệ thuật cho HV thông qua các trại sáng tác, hội thi, trưng bày triển lãm ở địa phương, khu vực và toàn quốc. ![]() Một góc thị xã Thủ Dầu Một Đã xuất hiện nhiều họa sĩ trẻ có tác phẩm được đánh giá cao, như: Nguyễn Quang Sơn, Nguyễn Tấn Công, Lê Quang Lợi, Nguyễn Hùng Việt... Trên lĩnh vực âm nhạc, những nghệ sĩ, nghệ nhân đi trước luôn nhiệt tâm dìu dắt, hướng lớp trẻ đến với nền âm nhạc dân tộc, như: NSƯT Tư Còn, nghệ sĩ Cao Thị Thắng, Phạm Ngọc Phú... Đội ngũ sáng tác nhạc mới cũng thu hút đông đảo HV tham gia và hứa hẹn nhiều triển vọng. Nhiều nhạc sĩ đã từng bước tạo được tên tuổi của mình qua các tác phẩm phổ biến trong và ngoài tỉnh, như: Võ Đông Điền, Lê Trung Hiếu, Phạm Đắc Hiến, Phan Hữu Lý... 5 năm qua, có gần 300 ca khúc mới đã ra đời, trong đó có khoảng 30% tác phẩm đã được phổ biến, giới thiệu đến công chúng. Trên lĩnh vực sân khấu, dù còn khó khăn về "đất diễn" cho những tác phẩm hoàn chỉnh, nhưng một số tác giả cũng đã khẳng định khả năng sáng tạo của mình, như: Phan Quốc Nhân, Phan Thị Hoàng Anh đều đạt giải cao của Hội Sân khấu Việt Nam về sáng tác kịch bản sân khấu trong năm 2009. Bộ môn văn nghệ dân gian tuy HV tham gia sinh hoạt không nhiều, nhưng trong thời gian qua các HV đã thực hiện được nhiều công trình có ý nghĩa, được đánh giá cao, như: tập truyện dịch thơ Nôm Lưu Hương diễn nghĩa bảo quyển (Phan Thanh Đào), 5 tập sách về Phong Thủy, Kinh dịch (Lê Hưng), Bình Dương dấu cũ làng xưa, Bình Dương miền đất anh hùng (nhiều tác giả), Dấu xưa đất Thủ (Nguyễn Hiếu Học), Làng nghề Bình Dương (nhiều tác giả)... ![]() uống rượu với bạn thơ ![]() Với một nhà thơ nữ Bình Dương ![]() LC và nhà thơ Lê Tiến Mợi III-NGOÀI LỀ HỘI NGHỊ Trưởng GĐAT Bình Dương là nhà thơ Nguyễn Nguy Anh. Các cây viết trẻ là Lê Minh Vũ, Dương Kiều Nhi, Cát Du, Hoàng Linh, Lưu Thành Tựu, Đào Văn Đạt, họa sĩ trẻ Trần Nguyên Mỹ.... ![]() Nguyễn Phương Thanh- ảnh LC ![]() Rủ em ra sân chụp ảnh- Ảnh LC ![]() Bên người đẹp-ta đẹp lên Quên đời ta cứ vui duyên bạn bè ![]() Sông Bé và những đám lục bình ![]() Nguyễn Phương Thanh đang xem ảnh- Ảnh Lê Công ![]() Em định xách túi ra về Nhưng anh níu lại tỉ tê đôi lời |
| Góp ý (8) |